Ngày biết tin tôi đỗ đại học nhưng không có tiền nhập học, bác cả nhà có điều kiện nhưng không nỡ cho cháu 1 xu, bác hai thương tình bán đàn lợn nuôi tôi ăn học, 10 năm sau trở về báo ân, tôi sững sờ khi biết sự thật…
Ngày biết tin tôi đỗ đại học nhưng không có tiền nhập học, bác cả nhà có điều kiện nhưng không nỡ cho cháu 1 xu, bác hai thương tình bán đàn lợn nuôi tôi ăn học, 10 năm sau trở về báo ân, tôi sững sờ khi biết sự thật…
Năm tôi mười tám tuổi, làng tôi có người đầu tiên đỗ đại học – chính là tôi. Ngày biết tin, mẹ mừng đến bật khóc. Căn nhà tranh ng//hèo nàn bỗng rộn tiếng cười, nhưng chỉ ít ngày sau, nụ cười ấy vụt tắt khi mẹ thở dài:
“Đỗ đại học thì mừng, nhưng lấy gì mà đi, con ơi…”
Cha tôi mất sớm, mẹ bệnh yếu. Tôi gom hết số tiền dành dụm, chẳng được nổi một phần học phí. Cuối cùng, tôi đánh liều lên nhà bác cả Thành – anh trai của cha, người được xem là “niềm tự hào của họ Nguyễn”, giàu có và thành đạt ở thị xã.
Căn biệt thự của bác sáng loáng, khác hẳn với căn nhà đất sét của tôi. Bác tiếp tôi, gương mặt lạnh và ánh mắt thấu suốt.
“Cháu đỗ là tốt. Nhưng con người ta phải biết tự lập. Bác không thể giúp mãi được.”
Tôi cúi đầu, nghe tiếng cánh cửa khép lại sau lưng mà trong lòng nghẹn đắng.
Chiều hôm đó, tôi về qua nhà bác hai Lâm – em kế của cha. Căn nhà tường vôi bong tróc, mùi cám heo ngai ngái. Thấy tôi ngồi buồn, bác cười hiền:
“Nghe nói con đỗ đại học hả? Giỏi quá! Sao lại buồn?”
Tôi kể lại mọi chuyện. Bác chỉ im lặng một lúc lâu, rồi đột ngột đứng dậy.
“Thôi, cứ đi học đi con. Bác tính được.”
Vài hôm sau, bác mang đến một bọc tiền cũ, cẩn thận buộc dây thun. Tôi đếm – vừa đủ đóng học phí và ăn học nửa năm. Tôi hỏi:
“Bác lấy đâu ra tiền vậy?”
Bác cười, giấu ánh mắt đỏ hoe:
“Bác bán mấy con heo. Già rồi, làm lại được, lo chi!”
Tôi nghẹn lời. Trong lòng, bác hai trở thành người tôi mang ơn suốt đời, còn bác cả thì… không bao giờ muốn nhắc nữa.
Những năm đại học xa nhà, tôi luôn nhớ đến bác hai. Mỗi lần Tết về, bác dúi vào tay tôi vài tờ tiền lẻ:
“Cầm lấy, đừng ngại. Bác không có nhiều, nhưng có lòng.”
Tôi cố gắng học giỏi, ra trường có việc làm ổn định, rồi lập công ty riêng. Mười năm trôi qua, tôi từ cậu sinh viên nghèo trở thành người thành đạt.
Ngày tôi mua được chiếc xe đầu tiên, điều đầu tiên tôi nghĩ đến là: phải về quê, báo đáp bác hai.
Trên đường về, tôi ghé qua thị xã, dừng trước cổng nhà bác cả. Căn biệt thự vẫn sáng choang, giờ càng khang trang hơn. Bác tiếp tôi trong phòng khách rộng thênh thang, mùi nước hoa phảng phất.
Tôi chỉ cười nhạt, nói vài câu xã giao. Trong lòng vẫn còn nguyên vết hằn cũ.
“Giờ tôi giàu rồi, nhưng chẳng phải nhờ bác. Có người khác đã giúp tôi…”
Bác chỉ mỉm cười:
“Ừ, giúp được là tốt rồi. Miễn là con nên người.”
Chiều hôm ấy, tôi về đến quê. Nhà bác hai đã cũ kỹ hơn xưa, mái ngói xô nghiêng, tường rêu phủ xanh. Trước sân, hàng cau vẫn đứng im, chỉ khác là không còn tiếng heo kêu như ngày nào.
Người hàng xóm già nhìn tôi, khẽ thở dài:
“Bác hai con mất rồi, được hơn một tháng. Đ//ột q///uỵ, đi nhanh lắm.”
Tôi đứng lặng. Cả cơ thể như trống rỗng.
Tôi chạy vào nhà, thắp nén nhang, nước mắt trào ra. Trên bàn thờ, cạnh di ảnh là một bức thư cũ, góc phong bì ghi: “Gửi cháu Hùng, nếu con về, bác nhờ đưa tận tay.
…tôi run run mở phong bì. Nét chữ quen thuộc của bác hai hiện ra, nguệch ngoạc nhưng ngay ngắn:
“Hùng à,
Nếu con đọc được thư này, chắc bác không còn nữa.
Năm con đỗ đại học, số tiền bác đưa con không phải bán đàn lợn. Lợn chỉ bán được một nửa thôi.
Phần còn lại… là tiền bác vay của bác cả Thành.”
Tôi sững người. Tim như rơi xuống.
Tôi đọc tiếp, tay bắt đầu run mạnh hơn:
“Bác cả con không phải không thương con.
Hôm con lên xin tiền, bác cả đã sang nhà bác ngay tối hôm đó.
Ảnh nói: ‘Tôi sợ cho tiền thẳng, thằng nhỏ mang ơn tôi rồi sinh ỷ lại. Để tôi cho chú mượn, chú đứng ra lo cho cháu đi học. Cháu nó thương chú, sau này nó có hiếu với chú thì tốt hơn.’
Bác cả đưa bác đủ tiền, còn dặn đừng nói cho con biết.
Ảnh bảo: ‘Để nó ghét tôi cũng được. Miễn là nó chịu học, chịu vươn lên.’”
Tôi chết lặng.
Bức thư còn viết:
“Bác hai không kể vì sợ con nặng lòng, sợ con sống cả đời trong mặc cảm mang ơn người mình từng giận.
Bác cả con… sống khô khan, ít nói, lại tự ái cao.
Ảnh không giỏi an ủi ai, chỉ giỏi lặng lẽ làm rồi chịu mang tiếng.
Hùng à,
Người thương mình chưa chắc nói lời ngọt.
Có người chọn đứng trong bóng tối để con đi ra ánh sáng.”
Tôi gục xuống trước bàn thờ, khóc như một đứa trẻ.
Mười năm qua, tôi oán bác cả.
Mười năm qua, người đàn ông ấy im lặng nhận phần cay đắng về mình, chỉ để tôi có thể yên tâm học hành, lớn lên mà không mang ơn “người giàu trong họ”.
Tôi nhớ lại ánh mắt bình thản của bác cả chiều hôm đó.
Cái gật đầu nhẹ khi tôi nói “không nhờ bác mà vẫn nên người”.
Hóa ra, bác đã quen với việc bị hiểu lầm.
Tối hôm ấy, tôi quay xe lên thị xã lần nữa.
Căn biệt thự sáng đèn. Bác cả ra mở cửa, vẫn dáng vẻ lạnh lùng quen thuộc:
“Quên đồ à?”
Tôi không nói gì, chỉ cúi đầu thật sâu:
“Cháu… xin lỗi bác. Cả đời này, cháu nợ bác một lời xin lỗi.”
Người đàn ông trước mặt khựng lại.
Bàn tay đang cầm chén trà của bác khẽ run.
Bác quay mặt đi, giọng khàn đi một chút:
“Biết rồi thì… sống cho tử tế. Thế là được.”
Tôi hiểu, có những ân tình không cần được biết ơn công khai.
Có những người chọn đứng trong vai kẻ vô tâm, chỉ để giữ cho mình một đứa cháu được bước đi thẳng lưng giữa đời.
Và từ hôm đó, mỗi lần về quê, tôi thắp hai nén nhang.
Một cho người đã bán cả đàn heo để nuôi tôi lớn khôn.
Một cho người đã lặng lẽ bán… chính danh dự của mình, để đổi lấy tương lai cho tôi.

